Thiết kế
một quy trình mới để sản xuất vật liệu rắn dạng hạt thường dễ hơn so với việc sửa
chữa hoặc cải tiến một quy trình hiện có. Xử lý vật liệu rắn là một lĩnh vực kỹ
thuật đặc thù. Nhiều tính chất quan trọng cần thiết để hiểu một vấn đề về dòng
chảy hay chất lượng sản phẩm lại không dễ xác định. Khiếu nại phổ biến nhất đối
với một quy trình đang vận hành là: sản phẩm đã thay đổi, trong khi quy trình
và nguyên liệu không hề thay đổi. Điều họ thực sự muốn nói là: chúng ta đang
thiếu một số dữ liệu vật lý trong quá trình, chẳng hạn như một dạng thù hình
(polymorph) hoặc một đồng phân đối quang (enantiomer - hai phân tử giống nhau về thành phần và cấu trúc hóa học nhưng định hướng khác nhau trong không gian).
Việc xác
định các tính chất vật lý của vật liệu rắn dạng hạt thường rất tốn kém (hãy
nghĩ đến việc phải đo độ tan của tất cả các dạng thù hình), nên khi phát triển
quy trình ban đầu, chúng ta chỉ thu thập được những dữ liệu có thể, rồi tiếp tục
triển khai.
Vấn đề với
một quy trình đang vận hành là: những người phát triển ban đầu đã không còn ở
đó, còn những người vận hành hiện tại thì đã tự điều chỉnh quy trình mà không
có tài liệu ghi chép đầy đủ.
Trong các
quy trình hóa học hiện đại ngày nay, những thay đổi như vậy thường sẽ được ghi
lại hoặc đánh giá kỹ lưỡng trước khi áp dụng vào thực tế.
Cần lưu ý
rằng, không có thiết lập nào nằm ngoài “thực hành tốt”, và nhiều thay đổi trong
số đó không ảnh hưởng đến sản phẩm. Tuy nhiên, theo thời gian, những thay đổi
nhỏ này lại trở thành quy chuẩn vận hành mặc định.
Tôi nhớ một
quy trình mà phân tích sản phẩm đầu ra từ thiết bị kết tinh cho thấy 10% thành
phần không xác định, và tỷ lệ này đã tăng dần suốt vài tháng. Hóa ra, những
thay đổi nhỏ tưởng chừng vô hại ấy đã tích tụ lại, làm dịch chuyển cân bằng của
một phản ứng phụ trong dòng quy trình.
Trải nghiệm
đó khiến tôi luôn nhớ rằng: Bạn không thể làm nghiên cứu trong môi trường sản
xuất.
Các thông
số thiết kế của quá trình xử lý vật liệu rắn
Tuy
nhiên, việc thiết kế một quy trình mới mở ra cơ hội để thu thập thêm nhiều thuộc
tính vật lý quan trọng và phổ biến, vốn rất cần thiết để hiểu rõ quá trình xử
lý vật liệu rắn. Hãy bắt đầu từ những yếu tố cơ bản:
- Độ ẩm
và sự thay đổi của nó trong khối vật liệu cũng như bên trong từng hạt
- Kích
thước hạt và phân bố kích thước ở từng bước trong quy trình
- Tải lượng
chất rắn (solids loading) ở các giai đoạn khác nhau của quá trình
Hầu hết
các nhà máy đều có thể cung cấp số liệu cơ bản cho những thuộc tính này.
Tuy
nhiên, những thuộc tính này thường không phải là một con số cố định, mà là một
dải giá trị (range).
Độ ẩm: Đây là yếu
tố thay đổi trong suốt một mẻ và ngay cả bên trong từng hạt. Chúng tôi từng gặp
vấn đề vón cục với nguyên liệu được lưu trữ một thời gian sau khi sấy. Trong
trường hợp đó, thông số quan trọng chính là độ ẩm tới hạn (mức độ ẩm mà tại đó quá trình sấy chuyển từ giai đoạn có tốc độ sấy không đổi sang giai đoạn có tốc độ sấy giảm.).
Sau thiết
bị kết tinh, đơn vị lọc tạo ra bánh lọc có độ ẩm cao hơn nhiều so với độ ẩm tới
hạn. Tuy nhiên, độ ẩm này lại thay đổi theo thời gian. Nghiên cứu trước đó cho
thấy thời gian sấy 30 phút là đủ để đạt được độ ẩm cuối cùng như mong muốn. Điều
này hoạt động tốt trong vài năm.
Tuy
nhiên, lưới lọc bị xuống cấp theo thời gian, và chất lượng của vải lọc có thể
dao động ngay cả khi còn mới. Một ngày nọ, vấn đề vón cục lại xuất hiện do độ ẩm
trong bánh lọc tăng lên. Khi tăng thời gian sấy, lại xảy ra hiện tượng vón cục
trong máy sấy và một phần sản phẩm bị hư hỏng. Các hạt mịn thì đã khô, nhưng một
số hạt lớn hơn vẫn còn độ ẩm dưới ngưỡng tới hạn.
Vấn đề được
giải quyết bằng cách giám sát nhiệt độ của chất rắn để đảm bảo cao hơn điểm
sương trong máy sấy (Để đảm bảo nước vẫn tiếp tục thoát ra), và áp dụng thời gian sấy cố định kể từ thời điểm đó. Vì đã
đạt đến độ ẩm tới hạn, quá trình sấy diễn ra trong giai đoạn tốc độ giảm
(falling-rate zone - nhiệt độ sấy phải giảm và thời gian kéo dài) mà không gây hiện tượng quá nhiệt cho chất rắn.
Quy trình
này lẽ ra nên được thiết kế với một bộ điều khiển có thể thay đổi thời gian sấy,
để thích ứng với giai đoạn sấy có tốc độ không đổi, vốn bị ảnh hưởng bởi độ ẩm
ban đầu.
Phân bố
kích thước hạt: Giống như độ ẩm, kích thước hạt không phải là một
con số cố định mà là một dải giá trị. Đáng tiếc là dải này có thể thay đổi
trong quá trình xử lý do hiện tượng mài mòn (attrition) và kết dính
(agglomeration).
Phân bố
kích thước hạt có thể ảnh hưởng đến tốc độ sấy và chất lượng sản phẩm. Các hạt
mịn có thể bị sấy quá khô hoặc bề mặt bị cứng lại, làm giảm độ tan của sản phẩm.
Trong khi
đó, các hạt lớn hơn thường còn độ ẩm dư thừa, có thể gây ra hiện tượng vón cục.
Ở nồng độ
thấp, các hạt trong dòng khí phân tán thành những hạt đơn lẻ . Khi nồng độ tăng
lên, chúng bắt đầu kết dính thành những hạt lớn hơn, từ đó lắng xuống nhanh
hơn. Hiện tượng này có thể khiến giường sấy tầng sôi bị sập hoặc băng tải khí
(pneumatic conveyor) bị tắc nghẽn.
Tải lượng
chất rắn: Dòng khí có khả năng vận chuyển chất rắn có giới hạn. Khi tỷ
lệ chất rắn trên khí tăng lên, dòng chảy chuyển từ dạng chuyển động như chất lỏng
sang dạng tụ khối (các hạt rắn tụ lại thành những hạt lớn gọi là tụ khối).
Ở một mặt,
đây là đặc tính tốt vì các hạt sẽ chậm lại và chịu ít sự mài mòn hơn. Mặt khác,
nhược điểm là đường ống có thể cần được gia cố thêm để tránh hư hại do các tụ
khối va đập.
May mắn
là đã có hiểu biết rõ ràng về cách các hạt chuyển động dựa trên kích thước và mật
độ của chúng.
Sơ đồ
Geldart, kết hợp với vận tốc muội saltation (vận tốc mà ở đó các hạt rắn trong
dòng khí bắt đầu lắng xuống), có thể được sử dụng để dự đoán vùng không có dòng
chảy hoặc khả năng vận chuyển hạn chế của chất lỏng (hoặc khí).
Các vấn đề
khác
Một yếu tố
khác cần xem xét khi thiết kế hoặc xử lý sự cố của một quy trình là cách bố trí
thiết bị. Mặc dù tôi hiếm khi thấy một thiết bị nào không thực hiện đúng chức
năng của nó, nhưng đôi khi thiết bị đó bị khai thác quá mức.
Ví dụ, nếu
vận hành thiết bị kết tinh (crystallizer) để tạo ra các hạt lớn nhằm giảm thời
gian lọc, thì lại có thể dẫn đến việc tạo ra nhiều hạt mịn hơn từ thiết bị sấy
do hiện tượng mài mòn.
Một hướng
đi tốt hơn có thể là: vận hành thiết bị kết tinh để tạo ra các hạt nhỏ, sau đó
kết dính (kết tụ - agglomerate) các hạt nhỏ này thành hạt lớn hơn trong thiết bị
sấy.
Để đánh
giá phương án này, bạn có thể cần thực hiện một nghiên cứu về quá trình lọc nhằm
xác định kích thước hạt tối ưu mà tại đó bạn nên vận hành thiết bị kết tinh, nhằm
tránh quá tải cho máy ly tâm hoặc bộ lọc.
Việc thu
thập dữ liệu cho thiết kế hoặc xử lý sự cố trong quá trình xử lý chất rắn có thể
tốn kém, nhưng bằng cách xem xét các lộ trình thay thế và chú ý đến ba đặc tính
cơ bản của hạt (độ ẩm, kích thước hạt, tải lượng rắn), bạn có thể tập trung vào
các thông số quan trọng nhất.
Đó chính
là cách để thu được dữ liệu giá trị và hiệu quả nhất.
Note: Các chữ in nghiên là phần chú thích của chủ blog
Nguồn:
https://www.chemicalprocessing.com/voices/solid-advice/article/55289072/solids-processing-measure-the-basics-to-succeed?o_eid=6838C4248256H3A&oly_enc_id=6838C4248256H3A&rdx.ident[pull]=omeda|6838C4248256H3A&utm_campaign=CPS250508108&utm_medium=email&utm_source=CHPR+CP+Weekly
No comments:
Post a Comment